|
ÐẠI ÐẠO TAM KỲ
PHỔ ÐỘ
TÒA THÁNH TÂY NINH
TÂN LUẬT
Hội Thánh Giữ Bản Quyền
Ấn Bản
Năm Nhâm Tý (1972)
In tại Nhà in Trung Tâm Giáo Hóa Thiếu Nhi Thủ Ðức.
TIỂU TỰ
ÐẠO PHÁP
|
CHƯƠNG I:
|
Về chức sắc cai trị trong
Ðạo
|
|
CHƯƠNG II:
|
Về người giữ Ðạo
|
|
CHƯƠNG III:
|
Về việc lập họ
|
|
CHƯƠNG IV:
|
Về ngũ giới cấm
|
|
CHƯƠNG V:
|
Về tứ đại điều qui
|
|
CHƯƠNG VI:
|
Về giáo huấn
|
|
CHƯƠNG VII:
|
Về hình phạt
|
|
CHƯƠNG VIII:
|
Về việc ban hành luật
pháp
|
THẾ LUẬT
TỊNH THẤT
Phàm con người phải biết có chi trên đầu. Cái không trung trên đầu
ta đó, là Trời. Ðấng cầm quyền trên ấy là Ðấng Tạo Hóa, là Ngọc Hoàng
Thượng Ðế là Chúa Tể cả Càn Khôn Thế Giái.
Nay Ðấng Tạo Hóa lấy danh lập Ðạo là Cao Ðài Tiên Ông, Ðại Bồ Tát
Ma Ha Tát, dùng huyền diệu Tiên Gia đến dựng nơi nước Nam ta, một nền
chơn Ðạo rất cao thượng mà độ rỗi nhơn sanh khỏi luân hồi, gọi là Ðại
Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.
Ðức Thựơng Ðế vì thương yêu nhơn loại đến độ rỗi chúng ta, lại gọi
mình là Thầy, kêu chúng ta là Môn Ðệ.
Vậy nên chúng ta phải hết lòng kính mến và sùng bái Ðấng Tạo Hóa
và hết dạ tín ngưỡng cái Ðạo rất huyền vi mầu nhiệm của Ðấng Chí Tôn.
Cái tông chỉ của Ðại Ðạo là gồm cả ba Ðạo chánh là: Nho, Thích,
Ðạo chuyển cả ba Ðạo ấy mà hiệp lại làm một. Nên chi chúng ta tu Ðại Ðạo
thì phải noi theo tông chỉ của Tam Giáo, mà tập rèn tâm tánh, là phải
nắm trọn tam cang, ngũ thường, vẹn giữ tam qui, ngũ giái và cần luyện
tam bửu, ngũ hành.
Người mà gồm được hết cả ba thì là gần Thần, Thánh, Tiên, Phật vậy.
ÐẠO
PHÁP CHƯƠNG I: VỀ CHỨC SẮC CAI TRỊ TRONG ÐẠO
Ðiều Thứ Nhứt:
-
Trên
hết có một phẩm GIÁO TÔNG là anh cả có quyền thay mặt cho
Thầy mà dìu dắt cả tín đồ trong đường Ðạo và đường Ðời. Ðức
Giáo Tông có quyền về phần xác, chớ không có quyền về phần
hồn.
-
Ðức
Giáo Tông đặng phép thông công cùng Tam Thập Lục Thiên và
Thất Thập Nhị Ðịa Giái mà cầu rỗi cho cả tín đồ.
-
Chư tín
đồ
phải tuân mạng lịnh phẩm ấy.
Ðiều Thứ Nhì:
-
Kế đó có ba vị CHƯỞNG PHÁP của ba
phái là Nho, Thích, Ðạo.
-
Ba vị ấy có quyền xem xét luật lệ
trước buổi thi hành, hoặc của Giáo Tông truyền xuống, hoặc của Ðầu
Sư dâng lên. Như hai đàng chẳng thuận thì phải dâng lên cho Hộ Pháp
đến Hiệp Thiên Ðài cầu Thầy giáng xuống mà sửa lại.
-
Ba vị ấy có quyền xem xét kinh
điển trước khi phổ thông; như có kinh luật chi làm cho bại phong hóa
thì ba vị ấy phải truất bỏ chẳng cho xuất bản.
-
Mỗi Chưởng Pháp có ấn riêng. Ba
ấn phải có đủ trên mỗi luật mới đặng thi hành.
-
Chưởng Pháp phải can gián sửa lỗi
của Giáo Tông; nếu cả ba thấy lẽ vô đạo của Giáo Tông, có quyền đem
đơn kiện nơi Tòa Thánh.
Ðiều Thứ Ba:
-
Ba vị ÐẦU SƯ của ba phái có quyền
cai trị phần Ðạo và phần Ðời của tín đồ.
-
Ba vị ấy đặng quyền lập luật,
song phải dâng lên cho Giáo Tông phê chuẩn. Ba vị ấy phải tuân mạng
lịnh Giáo Tông truyền dạy. Như khoảng luật lệ nào nghịch với sự sinh
hoạt của nhơn sanh thì ba vị ấy được nài xin hủy bỏ.
-
Như luật lệ nào Giáo Tông đã
truyền dạy mà cả ba đều ký tên không tuân mạng thì luật lệ ấy phải
trả lại cho Giáo Tông; Giáo Tông truyền lịnh cho Chưởng Pháp xét nét
lại.
-
Ba vị có ấn riêng nhau; mỗi tờ
giấy chi chi phải có đủ ba ấn mới thi hành.
Ðiều Thứ Tư:
-
Ba mươi sáu vị PHỐI SƯ, chia ra
mỗi phái là 12 vị. Trong ấy có ba vị CHÁNH PHỐI SƯ.
-
Ba vị ấy đặng thế quyền cho Ðầu
Sư mà hành sự song chẳng quyền cầu phá luật lệ.
Ðiều Thứ Năm:
-
GIÁO SƯ có 72 người, trong mỗi
phái có 24 người. Giáo Sư là người để dạy dỗ chư tín đồ trong đường
Ðạo và đường Ðời.
-
Buộc Giáo Sư lo lắng cho chư tín
đồ như anh ruột lo cho em.
-
Giáo Sư cầm sổ bộ của cả tín đồ,
phải chăm nom về sự tang hôn của mỗi người.
-
Như tại châu thành lớn, Giáo Sư
được quyền cai quản và cúng tế Thầy như thể Ðầu Sư và Phối Sư.
-
Giáo Sư đặng quyền dâng sớ cầu
nài về luật lệ làm hại nhơn sanh hay là cầu chế giảm luật lệ ấy.
-
Giáo Sư phải thân cận với tín đồ
như anh em một nhà cần lo giúp đỡ.
Ðiều Thứ Sáu:
-
GIÁO HỮU là người để phổ thông
chơn đạo của Thầy, đặng quyền xin chế giảm luật lệ đạo, đặng phép
hành lễ khi làm chủ mấy cái chùa nơi mấy tỉnh nhỏ. Có 3.000 Giáo Hữu,
mỗi phái 1.000, chẳng nên tăng thêm hay là giảm bớt.
Ðiều Thứ Bảy:
-
LỄ SANH là người có hạnh, lựa
chọn trong chư tín đồ mà hành lễ.
-
Lễ Sanh đặng quyền đi khai đàn
cho mỗi tín đồ.
-
Phải vào hàng Lễ Sanh rồi mới
mong bước qua hàng chức sắc.
-
Luật lệ lập Hội Thánh này vì
chiếu theo Thánh Ngôn mà đem ra.
Ðiều Thứ Tám:
-
Ðầu Sư muốn lên Chưởng Pháp thì
nhờ ba vị công cử nhau.
-
Phối Sư muốn lên Ðầu Sư thì nhờ
36 vị công cử lên.
-
Giáo Sư muốn lên Phối Sư thì nhờ
72 vị công cử nhau.
-
Giáo Hữu muốn lên Giáo Sư thì nhờ
3.000 vị xúm nhau công cử.
-
Lễ Sanh muốn lên Giáo Hữu thì nhờ
cả Lễ Sanh xúm nhau công cử.
-
Ngôi Giáo Tông thì hai phẩm
Chưởng Pháp và Ðầu Sư tranh đặng, song phải chịu toàn tín đồ công cử
mới đặng.
Kỳ dư Thầy giáng cơ ban thưởng mới ra khỏi luật lệ ấy mà thôi.
Luật lệ lập Hội Thánh này vì chiếu theo Thánh Ngôn mà đem ra.
ÐẠO PHÁP CHƯƠNG
II: VỀ NGƯỜI GIỮ ÐẠO
Ðiều Thứ Chín:
Ðiều Thứ Mười:
-
Mỗi Thánh Thất từ đây phải lập
minh thệ. Còn ai mới vô Ðạo, nội ngày đem tên vào sổ phải ra đứng
giữa đại điện thề liền.
-
Buộc phải thuộc kinh và thông
hiểu luật pháp của Ðại Ðạo truyền ra.
Ðiều Thứ Mười Một:
Ðiều Thứ Mười Hai:
Nhập môn rồi gọi là tín đồ. Trong hàng tín đồ có hai bực:
1.
Một bực còn ở thế, có vợ chồng làm ăn như người thường, song buộc
phải giữ trai kỳ họăc 6 họăc 10 ngày trong tháng, phải giữ ngũ giái
cấm và phải tuân theo Thế Luật của Ðại Ðạo truyền bá. Bực này gọi là
người giữ Ðạo mà thôi; vào phẩm hạ thừa.
2.
Một bực đã giữ trường trai, giái sát và tứ đại điều qui, gọi là vào
phẩm thượng thừa.
Ðiều Thứ Mười Ba:
-
Trong hàng hạ thừa, ai giữ trai
kỳ từ mười ngày sắp lên, được thọ truyền bửu pháp, vào tịnh thất có
người chỉ luyện Ðạo.
Ðiều Thứ Mười Bốn:
Ðiều Thứ Mười Lăm:
-
Bực thượng thừa theo Ðại Ðạo buộc
phải để râu, tóc. Ăn mặc thường. Phải dùng toàn đồ vải trắng, hoặc
màu theo phái mình, song phải tùy tiện chẳng nên xa xí.
ÐẠO PHÁP CHƯƠNG
III: VỀ VIỆC LẬP HỌ
Ðiều Thứ Mười Sáu:
Ðiều Thứ Mười Bảy:
Ðiều Thứ Mười Tám:
Ðiều Thứ Mười Chín:
Ðiều Thứ Hai Mươi:
-
Chức sắc giữ Thánh Thất mỗi ngày
phải làm tiểu lễ bốn lần theo tứ thời: Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu. Mỗi thời
phải cúng đúng 6 giờ sáng, 12 giờ trưa, 6 giờ tối và 12 giờ khuya.
-
Ðổ một hồi chuông trước khi hành
lễ. Trong mấy thời này, bổn đạo muốn đến tụng kinh tùy ý.
ÐẠO PHÁP CHƯƠNG
IV: VỀ NGŨ GIỚI CẤM
Ðiều Thứ Hai Mươi Mốt:
Hễ nhập môn rồi phải trau giồi giữ tánh hạnh, cần giữ ngũ giới cấm
là:
Nhứt Bất Sát Sanh, là chẳng nên
sát hại sanh vật.
Nhì Bất Du Ðạo, là cấm trộm cướp;
lấy ngang, lường gạt của người, hoặc mượn vay không trả, hoặc chứa
đồ gian, hoặc lượm lấy của rơi, hoặc sanh lòng tham của quấy để ý
hại cho người, mà lợi cho mình, cờ bạc gian lận.
Tam Bất Tà Dâm, là cấm lấy vợ
người, thả theo đàn điếm, xúi giục người làm loạn luân thường, hoặc
thấy sắc dậy lòng tà, hoặc lấy lời gieo tình huê nguyệt (vợ chồng
không gọi tà dâm).
Tứ Bất Tửu Nhục, là cấm say mê
rượu thịt, ăn uống quá độ, rối loạn tâm thần, làm cho náo động xóm
làng, hoặc miệng ước rượu ngon, bụng mơ đồ mỹ vị.
Ngũ Bất Vọng Ngữ, là cấm xảo trá
láo xược, gạt gẫm người, khoe mình, bày lỗi người, chuyện quấy nói
phải, chuyện phải thêu dệt ra quấy, nhạo báng, chê bai, nói hành kẻ
khác, xúi giục người hờn giận, kiện thưa xa cách, ăn nói lỗ mãng,
thô tục, chưởi rủa người, hủy báng Tôn Giáo, nói ra không giữ lời
hứa.
ÐẠO PHÁP CHƯƠNG V:
VỀ TỨ ÐẠI ÐIỀU QUI
Ðiều Thứ Hai Mươi Hai:
Buộc phải trau giồi đức hạnh giữ theo tứ đại điều qui là:
1. Phải tuân lời dạy của bề trên,
chẳng hổ chịu cho bực thấp hơn điều độ. Lấy lễ hòa người. Lỡ làm lỗi,
phải ăn năn chịu thiệt.
2. Chớ khoe tài đừng cao ngạo
quên mình mà làm nên cho người. Giúp người nên Ðạo. Ðừng nhớ cừu
riêng, chớ che lấp người hiền.
3. Bạc tiền xuất nhập phân minh,
đừng mượn vay không trả. Ðối với trên, dưới đừng lờn dễ, trên dạy
dưới lấy lễ, dưới gián trên đừng thất khiêm cung.
4. Trước mặt sau lưng, cũng đồng
một bực, đừng kỉnh trước rồi khi sau.
Ðừng thấy đồng đạo tranh đua ngồi
mà xem không để lời hòa giải, đừng lấy chung làm riêng đừng vụ riêng
mà bỏ việc chung. Pháp luật phải tuân, đừng lấy ý riêng mà trái trên
dễ dưới. Ðừng cậy quyền mà yểm tài người.
ÐẠO PHÁP CHƯƠNG
VI: VỀ GIÁO HUẤN
Ðiều Thứ Hai Mươi Ba:
Ðiều Thứ Hai Mươi Bốn:
Ðiều Thứ Hai Mươi Lăm:
|