|
Sẽ là một thiếu sót không nhỏ, nếu tập Kỷ Yếu 2008 này không ghi nhớ sự kiện :
Năm 2006, Ùy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Tp.HCM đảm nhận chủ trì tổ chức cuộc họp mặt quý đại diện các Tôn Giáo và các tầng lớp Nhân Dân Toàn Thành, kỷ niệm ngày Hoằng Khai Đại Đạo ( đúng vào ngày Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Di Liên Đài Đức Tôn Sư Hộ Pháp từ Kampuchia hồi loan về Tổ Đình Tòa Thánh Tây Ninh ).
Đây là dịp để Đồng Đạo Toàn Thành được tự hào công khai hóa bản sắc Dân Tộc của Tôn Giáo Cao Đài, hình thành trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể; đồng thời dứt khoát khẳng định hướng phát triển “ chung đường cùng Dân Tộc” của một Tôn Gíao bản địa – nội sinh là tất yếu.
Ở phần cuối tập Kỷ Yếu này, xin được ghi lại những văn bản ( có kèm vài hình ảnh ), thể hiện các nội dung nêu trên, để lưu niệm về một chặng đường mà Đồng Đạo Cao Đài Toàn Thành chung tâm hiệp lực xiển dương Giáo lý Đại Đạo theo đúng Chơn truyền Đạo pháp. |
|
|
|
CHỦ TỊCH ỦY BAN MTTQ TP TRAO KỶ VẬT LƯU NIỆM ( TRỐNG ĐỒNG ) |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Trước tiên,chúng tôi xin được phép thay mặt Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh và Chức Sắc, Chức Việc cùng Đồng Đạo toàn thành, để bày tỏ niềm hoan hỉ và lòng tri ân đối với quý vị Lãnh Đạo Thành Phố, nhất là đối với Ùy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Thành Phố Hồ Chí Minh đã cho phép và chủ động tổ chức cuộc họp mặt kỷ niệm vể ngày Hoằng Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hôm nay.
Đây là cuộc họp mặt có ý nghĩa văn hóa – xã hội rất tích cực, chứng tỏ Chính Quyền và toàn xã hội ta luôn quan tâm chăm sóc thường xuyên cho nhu cầu văn hóa - tín ngưỡng của nhân dân, một cách vô tư, đồng đều và mỹ mãn, không thua kém bất kỳ nơi nào trên các châu lục.
Riêng Đồng Đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh chúng tôi hằng quan niệm : đây là dịp mà Đồng Đạo chúng tôi ôn lại, nhắc nhở nhau về bản chất Dân Tộc của Tôn Giáo mình, một tôn giáo khai sinh và phát triển giữa lòng cuộc sống Dân Tộc. Bản chất ấy đã và vẫn còn đang bị vài thế lực ngoại bang và tay sai tìm mọi cách xóa nhòa và xuyên tạc.
Trung thành với đường hướng khôi phục Chơn Truyền Đạo Pháp, bằng cách góp sức làm sáng tỏ phần nào khát vọng hiện thực và nhu cầu tâm linh của quần chúng tín đồ bình dân, trong thời kỳ Khai Đạo chúng tôi xin khái lược đôi điều về bản chất Dân Tộc của Tôn Giáo Cao Đài trong quá trình hình thành và phát triển
I. SỰ RA ĐỜI CỦA TÔN GIÁO CAO ĐÀI
1. Tính tất yếu lịch sử của sự ra đời Tôn Giáo Cao Đài
Tôn Giáo Cao Đài là một tôn giáo bản địa, ra đời trên vùng đất Nam Bộ vào giữa thập niên 20 thế kỷ XX, như một tất yếu lịch sử:
a) Về hoàn cảnh chính trị kinh tế:
Đây là giai đoạn chế độ thực dân đang ra sức khai thác thuộc địa, để bù đắp tổn thất Thế chiến thứ I. Thực dân vừa bóc lột thậm tệ, vừa tìm mọi cách lừa mị nhân dân thuộc địa để xoa dịu phong trào đấu tranh yêu nước, với mục đích chiến lược là phòng chống sự kết hợp giữa cách mạng vô sản với cách mạng giải phóng Dân Tộc, đang sắp sửa dấy lên ở các thuộc địa. Vì thế, tinh thần Dân Tộc đã bị dồn nén, căng thẳng
b) Về phương thức tiếp biến văn hóa (acculturation) Dân Tộc:
Trong hoàn cảnh nô vong, dưới chính sách thực dân vừa hà khắc vừa nham hiểm, nhân dân ta càng có nhu cầu “ tháo thoát tinh thần dân tộc” , rất gần gủi với một “ Catharsis” trong sáng tạo nghệ thuật. Tâm lý ấy được thể hiện qua phương thức tiếp biến văn hóa của Dân Tộc ( đã thành những qui luật truyền thống), trong hoàn cảnh đặc thù Nam Bộ. Vùng đất này đang tạm thời chấp nhận hiện tượng hổn dung văn hóa, non trẻ và cởi mở, có khát khao “ đổi mới” để hiện đại hóa Văn Hóa Dân Tộc.
Tôn Giáo Cao Đài đã xuất hiện, như một tất yếu lịch sử, được quy định bởi tình thế chính trị - kinh tế - văn hóa lúc bấy giờ.
Sau hơn một năm Thiên Khải Tiền Khai, chủ yếu ở địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh này, Tôn Giáo Cao Đài đã chính thức Khai Đạo ở chùa Gò Kén Tây Ninh, vào Rằm Tháng Mười năm Bính Dần ( 1926 ).
2. Xác định về Chơn Truyền Đạo Pháp
- Định hướng cơ bản của Chơn Truyền Đạo Pháp Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
Ngay từ tờ Khai Đạo ngày 07/10/1926, Tôn Giáo Cao Đài còn có tên goi ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐÔ, được hiểu là nền Đạo lớn ( hoặc con đường lớn ) của sự Đại ân Xá lần thứ ba ( la troisème Amnistie générale ). Đạo khai vào rằm Hạ Ngươn, mang dấu ấn một giai đoạn sau cùng của chu kỳ Thành – Trụ – Hoại – Không : đồng thời, cũng là tín hiệu báo trước một chu kỳ mới sắp bắt đầu, mở ra thời Thượng Ngươn Thánh Đức. Điều này hoàn toàn phù hợp với khát vọng của Dân Tộc thời ấy, đang sống đời nô lệ lầm than. Có tin rằng bóng đêm đen nô lệ trên trang sử cũ sắp bị lật qua, mới náo nức đón chào ánh bình minh độc lập tự do làm rạng rỡ Dân Tộc Việt Nam trong thời đại mới.
Chính khát vọng “ đổi đời” của quần chúng tín đồ thời ấy làm nên định hướng cơ bản của Chơn Truyền Đạo Pháp.
a) Chức năng cấp thiết của Chơn Truyền Đạo Pháp từ thời mở Đạo
Khát vọng này càng được tô đậm, bằng sự hoài niệm về quá khứ vàng son của Dân Tộc, có ý nghĩa biểu trưng. Đó là một “ Ký ức Hoàng kim” mà nhân dân ta cho rằng : Nhờ sống theo đạo nghĩa truyền thống, giáu tính nhân ái cộng đồng, “Gia Vô Bế Hộ, Lộ Bất Thập Di” (ở nhà không cần đóng cửa, ra đường không lượm của rơi). Vì vậy, ngay trong tờ Khai Đạo, đã có lời than : “Nhưng buồn thay cho đời thái bình phải mất…” (Hélas! Ce beau temps n’existe plus… Dịch sát nghĩa : Than ôi ! thời đại tốt đẹp ấy không còn nữa... ) Đây là lời than hàm chứa ý nghĩa oán trách chính chế độ thực dân đã làm tha hóa đạo đức truyền thống Dân Tộc , gây phân hóa Dân Tộc tạo điều bất hạnh cho Dân Tộc.
Từ đó, chức năng cấp thiết của tôn giáo Cao Đài vào thời kỳ Khai Đạo là : Khôi phục Đạo Lý truyền thống chơn chính của Dân Tộc, để đòan kết Dân Tộc, ngăn chặn sự phân hóa Dân Tộc bởi các thế lực ngọai bang. Vì là một Tôn Giáo phải họat động công khai, dưới ách thống trị của chế độ thực dân, chức năng cao cả cấp thiết này phải ẩn tàng trong giáo thuyết « Qui Nguyên, Hiệp Nhứt » . Qui Nguyên Tam Giáo, Hiệp Nhứt Ngũ Chi, tức là về với cội nguồn, lập lại điểm tương đồng chung nhất của các giá trị Đạo Giáo truyền thống, đã từng góp phần làm nên tính nhân đạo cộng đồng của Dân Tộc, vun bồi cho tiềm lực văn hóa Dân Tộc.
Chính khát vọng Đại Đòan Kết Dân Tộc, cùng khôi phục tiềm lực văn hóa Dân Tộc, hạn chế những bất hạnh do tha hóa văn hóa Dân Tộc, thực chất là nét tính cách chức năng của Chơn Truyền Đạo Pháp Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, vốn từng tồn tại trong ý thức hoặc tiềm thức của quần chúng tín đồ thời mở Đạo.
Trong hoàn cảnh lịch sử khắc nghiệt thời ấy, những khát vọng trong hiện thực đời sống Dân Tộc chuyển hóa thành nhu cầu tâm linh của người tín đồ Cao Đài.
b) Đức tin cao cả của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ theo Chơn Truyền Đạo Pháp
Tôn Giáo Cao Đài đã thể hiện Đức Tin nơi Đấng Tòan Năng Tối Thượng ( Le Très Haut, DIEU TOUT PUISSANT) tức Ngọc Hòang Thượng Đế, theo truyền thống Phương Đông, là Đức Chí Tôn, còn có tôn danh : CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT. Một tôn danh cao cả mà từ ái, kiêm cố mà bình dị, được tín đồ Cao Đài vinh tụng Đấng Thiên Chủ tối cao. Đấng đã chọn lựa Dân Tộc Việt Nam để mở rộng con đường đến hạnh phúc vĩnh hằng, dựng lại đời Thánh Đức, qua Kỳ Ba tận độ những Con Người Tròn Đầy Nhân Tính (được gọi là những Nguyên Nhân).
Trong tình thế ngặt nghèo thời ấy, niềm tin Tôn Giáo Cao Đài hướng về một viễn cảnh xã hội tươi đẹp để an ủi, động viên một bộ phận nhân dân, tăng phần hi vọng phấn đấu cho hiện thực.
Đấng Chí Tôn Thiên Chủ của Tôn Giáo Cao Đài lại gần gũi thân thương với sanh chúng. Khi thì Người mang tính cách của Bạn tâm giao ; khi thì Người mang tính cách của vị Cha lành ân cần khuyên nhủ ; khi thì người mang tính cách của bậc Thầy minh triết dạy răn. Tất cả như để hòan thiện phong cách giáo dục, phổ truyền một hòai bão thiết tha mong mỏi cả Dân Tộc, cộng thông tương ứng.
c) Căn bản triết lý theo Chơn Truyền Đạo Pháp Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Niềm tin tuyệt đối vào Đức Chí Tôn Thương Đế của Tôn Giáo Cao Đài cũng xuất phát từ triết lý nhân bản Phương Đông, đã hội nhập tứ lâu vào tư tưởng truyền thống Dân Tộc . Đó là niềm tin ‘Thiên Nhân Hiệp Nhứt’ mà ‘Nhân Nguyện Thiên Tùng’. Bởi lẽ :
‘...một Chơn Thần Thầy mà sanh hóa thêm Chư Phật, Chư Tiên, Chư Thánh, Chư Thần và tòan cả nhân lọai trong Càn Khôn Thế Giới ; nên chi các con là Thầy, Thầy là các con ‘. (TN 22-07-1926).
Điều quan trọng là phải biết ‘Tùng Thiên Ý ‘, ý nghĩa là vận dụng đúng qui luật tự nhiên và xã hội. Mà ‘ Thiên Ý’ vốn ‘ tại Dân Tâm’. Cái ‘Tâm’ chính đáng của mỗi Con Người điều hằng mang bản tính của Đấng Chí Tôn Thượng Đế.
Vì vậy ngay từ ban sơ mở Đạo, Tôn Giáo Cao Đài đã tôn thờ Thánh Tượng Thiên Nhãn với ý nghĩa ‘ Nhãn thị Chủ Tâm ‘. Con Mắt biểu hiện cái Tâm chân chính, làm chủ mọi hành tàng của con người chân chính. Người tín đồ Cao Đài phải tập trung hướng nhìn Thánh Tượng, mà tự thân soi xét Lương Tâm, hầu tìm ra bóng dáng Thiên Lương cao cả.
Trên đây là đôi điều khái lược, rút ra từ Đạo Pháp Chơn Truyền, đã đáp ứng nhu cầu tâm linh, vốn được chuyển hóa từ khát vọng hiện thực của một bộ phận nhân dân đã tin Đạo và theo Đạo từ thời mở Đạo.
II. VƯỢT QUA BAO THỬ THÁCH CAM GO, TÔN GIÁO CAO ĐÀI ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC
1. Từ 1926 đến nay, tôn giáo Cao Đài đã trải nghiệm qua nhiều thời điểm lịch sử đầy cam go thử thách. Có những lúc tổ chức hành Đạo phải kịp thời phát triển để Phổ Độ nhơn sanh. Thế nhưng, cũng chẳng hiếm khi nội dung mang bản chất Dân Tộc của Chơn Truyền Đạo Pháp bị phôi pha do ảnh hưởng ngọai lai che lấp.
Mùa xuân 1975 đã mở ra Kỷ nguyên chủ quyền cả Nước trở về cùng Dân Tộc. Sau một giai đoạn trăn trở cùng vận nước, tổ chức hành Đạo của Tôn Giáo Cao Đài phải tự dọn mình để đồng hành cùng Dân Tộc đi lên. Đây chính là thời điểm thuận lợi nhất trong lịch sử Đạo hơn 80 năm, để Tôn Giáo Cao Đài công khai làm rõ bản chất Dân Tộc của Chơn Truyền Đạo Pháp. Điều này là hợp với Nhơn Tâm hòa Thiên Ý.
2. Người tín đồ Cao Đài, luôn xác tín bản thân là một Tiểu Linh Quang, là một phần Trí tuệ, chiết ra từ Khối Đại Linh Quang của Đức Chí Tôn Thượng Đế, hẳn nhận biết rằng : Chơn Truyền Đạo Pháp đã đề ra lý tưởng phấn đấu hình thành một nền tôn giáo Dân Tộc (gọi là Quốc Đạo). Một tôn giáo bản địa có trở thành tôn giáo Dân Tộc hay không, còn tùy sự cống hiến của tôn giáo cho Dân Tộc mình và được toàn Dân Tộc tự nhiên chấp nhận. Có điều chắc chắn là : người tín đồ Cao Đài chơn chính không bao giờ vì những thiên kiến sai lầm, mà có những hành vi "vọng ngọai" , không bao giờ đặt lợi ích tôn giáo lên trên lợi ích Dân Tộc. Vì như thế là trái nghịch với bản chất Dân Tộc của Chơn Truyền Đạo Pháp, đắc tội với các Đấng Thiêng Liêng.
Hướng về phía trước, trong những bước đồng hành cùng Dân Tộc, cùng xây đời Thánh Đức, cùng chăm lo hạnh phúc toàn dân, Tôn Giáo Cao Đài càng có dịp phát huy tình nghĩa dân tộc tương ái, tương thân và góp phần bảo vệ đạo nghĩa truyền thống Dân Tộc, hóa giải sự tha hóa các giá trị truyền thống của văn hóa Dân Tộc, bởi tác động của giá trị thực dụng thô thiển ngọai lai đang có xu thế xâm nhập Đất Nước ta. Đó mới là định hướng hành đạo phù hợp với Chơn Truyền Đạo Pháp .
Để phục vụ Dân Tộc và Nhơn Sanh có hiệu quả, Tôn Giáo Cao Đài chúng tôi rất cần thiết tiếp tục nâng lên phẩm chất trí tuê của Đồng Đạo, để có được niềm chánh tín ; đồng thời , không ngừng chỉnh đốn về tổ chức và phong cách hành đạo cho thực sự hài hòa Thiên Ý với Dân Tâm.
Kính thưa Quý Đại Biểu,
Bất kỳ tôn giáo nào muốn bén rễ nảy mầm trên đất nước Việt Nam, hẳn phải, ít hay nhiều, có phần phù hợp với khát vọng hiện thực và nhu cầu tâm linh của Dân Tộc Việt Nam ; mang những nét bản sắc văn hóa Việt Nam. Phương chi, tôn giáo Cao Đài lại nguyên khởi hình thành tại Đất Nước Việt Nam, với quần chúng tín đồ Dân Việt là tuyệt đại đa số.
Vì thế, bất kỳ người công dân Việt Nam nào có Đạo Cao Đài, hiện nay, không thể không có tình cảm tự hào, vì đã đặt niềm tin tôn giáo vào một tôn giáo « nội sinh » - « bản địa », để rồi tiếp tục góp phần phát huy Chơn Truyền Đạo Pháp, theo định hướng Dân Tộc, của tôn giáo mình. Và thực ra, chỉ có phát huy Đạo Pháp theo định hướng Dân Tộc, người tín đồ Cao Đài tại đất nước Việt Nam mới không rơi vào hoang tưởng « vọng ngoại » mà làm tha hóa «một Đạo chơn thật là Đạo Thầy đã đến lập » tại «Nước Nam » «Trời Nam », tại «Đại Nam Việt Quốc » ( theo Thánh Ngôn ngày 18 /9/1926 – 10/1/1927 và tháng 7/1927........).
Gần 40 năm trước đây, sống dưới chế độ chịu nhiều ảnh hưởng tư tưởng ngoại lai, phi dân tộc, những tín đồ có tâm huyết đã kiên trì khẵng định : « Chúng tôi đã từng quan niệm : tư tưởng Cao Đài là mô hình thu gọn tư tưởng Dân Tộc. Chúng tôi cũng chỉ nói là tư tưởng Dân Tộc mà không nói tư tưởng đại đồng. Bởi lẽ đại đồng tính là bản chất của tư tưởng Việt Nam. Gọi tư tưởng Dân Tộc nghe qua có vẻ thân thiết hơn nhiều ; đồng thời, còn biểu hiện được sự dung hòa và chọn lọc ».
Quan niệm trên đây, từ năm 1972, cũng đã được Quý Ngài Chức Sắc Lãnh Đạo Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh chính thức thừa nhận.
Thiết nghĩ, chư vị tín đồ Cao Đài tại Đất Nước Việt Nam, hiện nay, càng có điều kiện, để nhận ra rằng : việc phát huy bản sắc Dân Tộc của tôn giáo Cao Đài không hề có ý nghĩa hạn chế đối tượng cứu độ , làm suy giãm đức hiếu sinh của Thượng Đế và đề kháng với tư tưởng nhân văn phổ quát. Bởi lẽ, chính do hoàn cảnh lịch sử cụ thể, đã làm nên Thiên Thời – Địa Lợi – Nhơn Hòa, để hình thành bản sắc Dân Tộc Việt Nam, vững vàng mà luôn khoan hòa, dung hợp, theo quy luật tiếp biến văn hóa đặc thù của Dân Tộc Việt. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ còn gọi tắt là Cao Đài giáo khai mở tại Đất Việt là vì Chơn Pháp Đại Đạo có sự hài hòa với bản sắc văn hóa truyền thống của Dân Tộc Việt. Điều này chính do nơi Thiên ý, đúng với Chơn Truyền Đạo Pháp. Đối lập tư tưởng Nhân Đạo của một tôn giáo bản địa với tư tưởng của nhân dân bản địa, ở trường hợp này, lại là nghịch Thiên ý, loạn dân tâm.
Kính thưa Quý Đại Biểu,
Dẫu biết rằng Đạo Pháp vô biên, nhưng Bến Giác vẫn là chỉ có Một. Chúng tôi không ngại tầm hiểu Đạo của mình bị biếm nhẽ là hạn hẹp trong lạch ngòi, là quanh quẩn trong ao nhà Dân Tộc. Vì chúng tôi vững tin rằng : Đạo sẽ đồng hành cùng Dân Tộc đi lên, để từng bước mở rộng và vươn xa. Đạo vẫn đang tồn tại với Nhơn Sanh, thì không thể bất chấp thực tế khách quan, không thể không nhận thức được thị phi, thiện ác, chính nghĩa – phi nghĩa, Dân Tộc – phi Dân Tộc, ......... Người hành Đạo chơn chính không mang hoang tưởng « vọng ngoại », mà vội vàng đẩy con thuyền Đạo ra đại dương vạn lý trùng khơi chơi vơi không định hướng, thì khó mà tìm ra Bến Giác.
Kính thưa Quý Đại Biểu,
Nhân cuộc họp mặt kỷ niệm ngày Hoằng Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ( Đạo Cao Đài ), chúng tôi, thay mặt Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh, xin mạo muội có đôi điều khơi gợi về bản chất Dân Tộc của Đạo Nhà. Sự trình bày xuất phát từ Đạo tâm chân thực, tuy chỉ ở mức độ khái lược giản đơn, nhưng tràn đầy niềm tưởng nhớ vô vàn chư vị Tiền Nhân đã thực lòng tin Đạo và theo Đạo, buổi ban sơ mở Đạo.
Một lần nữa, xin chơn thành cảm ơn các cấp Lãnh Đạo Đảng Chính Quyền và Ùy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã tạo cho đồng Đạo chúng tôi có dịp hội ngộ tưởng nhớ nầy.
Kính chúc sức khỏe Quý Đại Biểu Kính cầu nguyện Ơn Trên chan rưới hồng ân đều khắp chư vị Đồng Đạo
Tp. Hồ Chí Minh ngày 10 tháng 10 năm Bính Tuất (Dl 30 / 11 / 2006 ) Giáo Sư : THƯỢNG MINH THANH
*** BÀI THUYẾT ĐẠO NGÀY RẰM HẠ NGUƠN CẬP KỶ NIỆM 83 NĂM NGÀY HOẰNG KHAI ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ TÒA THÁNH TÂY NINH
Trong niềm tin phổ quát của người Đạo Cao Đài, ngày rằm Hạ Ngươn năm Bính Dần ( 1926 ) là ngày Đức Chí Tôn, Đấng Tòan Năng Tối Thượng, đã chính thức khai cơ tận độ vạn loại chúng sanh và đặc biệt ưu ái sẵn dành sự phát khởi nơi trời Nam đất Việt, trước tiên là do Dân tộc Việt. Điều này rất đậm nét trong Thánh ngôn mở Đạo.
Với niềm tin của Đạo hữu, ngày rằm tháng mười hàng năm đã trở thành ngày trọng đại thiêng liêng, ghi nhớ việc Đấng Cha Lành cao cả đã chuyển hiện tin mừng Đại Aân Xá kỳ ba vào hiện thực, xây đời Thánh Đức, mở ra kỷ nguyên Hạnh phúc cho chúng sanh.
Với những nhà nghiên cứu khoa học xã hội, nghiên cứu tâm lý xã hội, có tiếp cận tư liệu chuẩn xác và đủ điều kiện bình tỉnh khách quan, như hiện thời, hẳn phải ít nhiều nhận thấy rằng : Việc khai Đạo Cao Đài có mang ý nghĩa là một hiện tượng công khai hóa “ Khát vọng đổi đời” của Dân tộc thời ấy, trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, ở một bộ phận nhân dân cụ thể và với những nhân tố tác động có mang những ý hưởng cụ thể. Dĩ nhiên, khát vọng ấy đã được biểu hiện thành một trào văn hóa tâm lĩnh trong dòng chảy văn hóa Dân tộc, chịu sự chi phối bởi cách thế hổn dung – tiếp biến văn hóa, có tính truyền thống của Dân tộc. Đó là điều mà mọi lương tâm trong sáng cần làm rõ, để phát huy Đạo tâm trong sáng của quần chúng tin Đạo, theo Đạo ngay từ buổi ban sơ mở Đạo.
Nhân Đạo Lễ kỷ niệm ngày Hoằng Khai Đại Đạo, bước vào năm Đạo thứ 83, Ban Đại Diện Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh xin được Chân tình trao đổi với Chư Đồng Đạo đôi vài ý kiến suy nguyên cầu học.
Trước hết, xét về mặt lịch sử xã hội, tôn giáo Cao Đài ( tức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ) chính thức khai mở vào ngày Rằm tháng 10 năm Bính Dần ( DL 19/11/1926 ), tại chùa Gò Kén, Tây Ninh. Đây là một sự thật mà ai ai cũng thấu rõ từ lâu. Từ đó, đương nhiên, ai ai cũng phải nhìn nhận điều này : Tôn Giáo Cao Đài là một tôn giáo mới, xuất hiện vào giữa thập niên 20 của Thế kỷ 20, trên vùng đất Nam Bộ của đất nước Việt Nam, với tuyệt đại bộ phận tín đồ là nhân dân VN.
Bất kỳ một Tôn giáo nào, dù ngoại nhập, nhưng muốn phát triển và tồn tại lâu bền, trên đất nước Việt Nam, thu hút được đông đảo tín đồ là người Việt Nam, không thể không hàm chứa, thích nghi trong giáo lễ, giáo quy những nét cơ bản phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc và có mang những dự phóng ( projet ) đáp ứng phần nào những khát vọng chung của Dân tộc.
Phương chi, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ lại là một Tôn giáo nội sinh, từ vùng đất phía Nam của Tổ Quốc, một vùng đất mới thoáng mở, sớm trải qua bao trăn trở, nhưng vẫn luôn hướng về hòa nhập với cội nguồn.
Ngay từ buổi ban sơ, xây cơ mở Đạo, hình thành giáo lý chơn truyền, trọng tin Thánh Ý Thiêng Liêng, Đạo Cao Đài đã có định hướng “ Phục nhứt, Quy nguyên”, mong làm nên sức mạnh đoàn kết, hòa hợp tinh thần để phụng sự chúng sanh, mà dân tộc trước tiên; rồi tiếp đến là phổ truyền đại đồng tinh thần nhân loại. Xin đọc lại Thánh giáo trước và sau ngày Khai Đạo ít lâu, ghi đậm sâu ý nghĩa Chơn Truyền Đạo Pháp.
Thánh ngôn ngày 15/9 Bính Dần, như loan bao tin mừng ;
( Xin ghi lại đúng nguyên văn ở trang 38, TNHT, Q1, Hội Thánh xuất bản lần đầu 1927; tôn trọng cách viết hoa và dấu câu của văn bản ).
Ý nghĩa ba câu thơ đầu của lời Thánh huấn thật minh bạch : Tinh thần đoàn kết Dân tộc Việt Nam, dù ở lĩnh vực chính trị hay đạo đức, cũng điều đáng được trân trọng nêu gương. Nhưng dấu chấm hỏi (?) ở cuối dòng thơ thứ tư đã đặt ra cho Đồng Đạo chúng ta một trách nhiệm, đầy thử thách : Phải làm thế nào để xứng danh cao quý là Đạo lý Chơn chánh của Dân tộc, được quảng truyền phổ quát cho toàn nhân thế thảy thảy tôn vinh ?
Giở lai sách kinh, từ buổi ban đầu Hoằng Khai Đại Đạo, Nhà Nghiên cứu và Bạn Đạo có chân tình, không mấy khó để tìm luận chứng giải trình về định hướng Dân tộc đã xây nền Đạp pháp. Ngay trong niềm tin của Bạn Đạo, Giáo chủ của Tôn Giáo Cao Đài vừa là người Thầy thân tín, người Cha từ ái, cũng lại là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế cao cả, đã tá danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát để “ Giáo Đạo Nam Phương”. Và trong thánh ngôn ngày 13/12/1926 Người đã dạy :
“ Vốn Thầy tạo lập nền Thánh giáo cho dân Nam Việt chẳng phải là việc nhỏ đâu …”.
Xét lại hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội ngày nay đều nhận định : Nam Bộ thời ấy là môi trường thuận lợi Hoằng Khai Đại Đạo.
Sau ngày Rằm tháng mười Bính Dần, kéo dài cả ngày lẫn đêm, ngót 3 tháng trường, nhân dân ở nhiều địa phương liên tục kéo về Chùa Cò Kén nhập môn cầu Đạo. Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, đã kể lại khi Bà còn tại thế :
“ Thời buổi ấy, đâu cũng gom về Chùa Gò kén để nhập môn, Phái nữ thì tôi tiến dẫn, đêm thì 90 vị, đêm thì 150 vị, thật là con cái Chí Tôn, quy về tấp nập”. ( Đạo sử, q1- trang 96 ).
Kể cả nhà báo Đào Trinh Nhất, lúc ấy không mấy thiện cảm với Đạo Cao Đài, vẫn phải “lấy làm kinh ngạc”, vì lực hấp dẫn của Tôn giáo Cao Đài, chỉ mới vài năm mà số tín đồ lên đến 70 vạn. ( xem “ Cái án Cao Đài” từ trang 120 ).
Ở đây, quả tình có sự “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Khát vọng đổi đời của một bộ phận nhân dân đang sống trong nô lệ, chịu trăm bề áp lực, đã làm trổi dậy Tâm thức Dân tộc, để hài hòa chuyển hóa thành Linh thức có tính cộng đồng, tập hợp nên một trào lưu gắn kết Dân tộc, để mong giải quyết những vấn đề sống còn, trước hết là cho Dân tộc, đang có nhu cầu cấp thiết.
Có nhận thức như thế, mới hiểu ra cốt lỏi niềm tin của quần chúng tín đồ Cao Đài. Đó không phải là những thuộc tính tâm lý vốn có, tự có hay tự hình thành, ở từng cá thể độc lập riêng lẻ, mà một vài nhà nghiên cứu tâm lý Tôn giáo phương Tây gán ghép, xem đó là “ Religiosité”, vốn chỉ có phù hợp với niềm tin của con người thời nguyên thủy. Những nhà nghiên cứu theo quan điểm phương Tây ấy ít quan tâm đến sự phát triển xã hội luôn có tính cộng đồng của các dân tộc phương Đông.
Trong niềm tin tôn giáo của tín đồ Cao Đài, ở đầu thế kỷ XX còn tràn ngập cảm hứng Dân chủ. thiên ý tại dân tâm : “ nên chi các con là Thầy, Thầy là các con” (TN ngày 13/6 BD ). Ta cần lưu tâm đến danh gọi “các con”, trong lời dạy, để nhận chân khát vọng Dân chủ của tập thể tuyệt đại bộ phận quần chúng tin Đạo. Đó không phải là tư kiến của đôi vài cá nhân, phe nhóm lạm xưng là Thánh ý. Ở đây, Thánh ý của THẦY chính là Chân lý của thời đại, được tòan Dân tộc tôn vinh.
Thầy còn giảng dạy : “ Các con là đèn và gương soi cả nhơn loại phải tập mình cho xứng đáng” ( Tr.24, THHT q1, sd9d ).
Để rồi, kế đó, mới có sự cởi mở bao dung; trên tinh thần Dân tộc :
“ Chẳng luận là Nam hay Nữ, bất kỳ là nước nào, nó muốn biết Đạo lý, con phải độ; biểu chúng nó đến nghe Thầy dạy, mới có thể tu hành đặng; trước con không nên buộc chúng nó lắm” ( TN, ngày 20/02/1926, sđd, Tr 6 ).
Để chuẩn bị cho ngày Hoằng Khai Đại Đạo; Thầy đã ân cần nhắc nhở, với vị chức sắc Tiền bối, nguyên là một nghiệp chủ giàu có, rằng : phải quan tâm đến kẻ khó nghèo : “ …… Con phải khai rộng Thánh thất cho chúng sanh cầu Đạo, đừng phân sang hèn, ai ai đều cũng là con Thầy”. ( TN 19/09/BD; sđd.tr38 ).
Thưa chư Đồng đạo,
Như đã trình bày, Tôn Giáo Cao Đài vốn khai minh giữa thời Dân tộc lầm than, ngoại bang thống trị. Thánh Ý thiên liêng có hàm ẩn nổi niềm khát khao của Dân tộc, cũng phải tùy cơ định liệu cho vuông tròn. Con cái thương yêu của Thượng Đế Chí Tôn, lập đức tu thân đều được bảo tồn, bền chí vượt thử thách khó khăn trăn trở, hớn hở đón mừng ngày Tổ Quốc Thống Nhất Độc Lập Hòa Bình và từng bước cùng Đất nước tiến lên Thịnh vượng. Đạo Cao Đài là một Tôn giáo bản địa, mà đại bộ phận quần chúng tín đồ mang khát vọng của Dân tộc, thăng trầm cùng vận Nước, chung đường cùng dân tộc đi lên. Xét từ hoàn cảnh lịch sử cụ thể và Đạo Pháp Chơn Truyền, thật khó mà tách biệt giữa niềm tin tôn giáo của người bình dân thao Đạo với niềm tin về sự quang vinh của Dân tộc. Ở đây, mọi sự tách biệt giữa hai niềm tin nói trên, nếu không rơi vào ảo tưởng phi thực tế, cũng dễ rơi vào âm mưu phân hóa Dân tộc.
Thưa chư Đồng Đạo thân thương,
Nhân Đạo lễ kỷ niệm ngày Hoằng Khai Đại Đạo hôm nay, Ban Đại Diện Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh tại Tp.Hồ Chí Minh chúng tôi mạo muội có đôi điều bày giải về việc Đạo nhà đã hình thành và tồn tại với Nước Non Nhà, trong tinh thần hài hòa giữa Dân tộc và Đạo Pháp. Sự giải bày tuy khá dài nhưng vẫn là khái lược. Xin thành tâm cầu nguyện Chư Đồng Đạo nhuần gội thiên ân, trọn tùng chánh pháp.
Nam Mô Cao Đài Tiên Oâng Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
Thay mặt Ban Đại Diện Giáo sư Thượng Minh Thanh |