Tìm hiểu đạo Cao Đài

 

Đạo Cao Đài còn mang danh xưng là Đại Đạo Tam kỳ Phổ độ, một tôn giáo phát xuất từ tâm linh, sự sáng lập Đạo Cao Đài có nguồn gốc ở Thần linh học. Giáo lý và sự thờ phượng Thượng Đế đã được các bậc tiền khai Đại đạo đón nhận và truyền đạt lại cho tín đồ bằng cơ bút, qua dụng cụ thông công với các đấng tối cao là cây Ngọc cơ. Những bài cơ bút này được lưu ghi trong bộ "Thánh ngôn hiệp tuyển" (quyển số 1 và 2) gồm những thánh giáo chỉ dạy đến từ Đấng Thượng Đế tối cao, cũng chính là Đấng Cao Đài, hoặc từ các Đấng chơn linh thượng đẳng như Đức Lý Thái Bạch, thi hào của nước Trung hoa thời nhà Đường, trở thành Giáo Tông thiêng liêng hiện nay của Đạo Cao Đài. Những chơn linh của các vĩ nhân ở Âu châu, trong đó có Victor Hugo tức là Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn thường giáng cơ viết bằng thi văn các giáo huấn về tôn giáo.

 

Đạo Cao Đài là một hỗn hợp, một tổng hợp của các tôn giáo hiện hữu : Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, v.v... Đạo Cao Đài không hủy bỏ sự thờ cúng linh hồn người chết, sự Thánh hóa các vị anh hùng thời cổ đại của Trung Hoa và Việt Nam.

Cao Đài là danh từ tượng trưng Đấng Chí Tôn  mà trong kỳ ba nầy, Đấng ấy sẽ hiển thị ở phương Đông.

Ý tưởng của các tín đồ Cao Đài về đức tin mới là Đấng Thượng Đế, sự giáo huấn của Ngài tùy theo mức tiến hóa của tinh thần nhơn loại; tinh anh hơn thuở xưa. Lần nầy, Đấng Thượng Đế đến với nhơn loại trực tiếp bằng đường lối thông công qua các đồng tử. Hình thức mới mẻ về sự biểu thị của Đấng Chí Tôn ở kỳ ba, khác với những lần trước đây, Ngài sẽ không đặt để đạo Cao Đài phải chịu dưới quyền lực của một phàm nhân sáng lập như các tôn giáo khác. Bới là người cõi phàm, sẽ không thích hợp tánh cách đại đồng; vì những vị giáo chủ lãnh đạo tôn giáo, do chủ quan thường có khuynh hướng đối chọi với những giáo lý được truyền bá bởi các tôn giáo khác.

"Tại sao gọi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ?"

Theo giáo lý Cao Đài thì từ thời tạo thiên lập địa tới nay có 3 lần Thượng đế phân thân giáng trần hay giáng linh để lập Đạo:                               

- Thời kỳ thứ nhứt :

Nhứt kỳ Phổ Độ: Thời kỳ này nhân loại còn thuần phát thiên lương, nhưng nếp sống còn lạc hậu, các Đấng Giáo chủ giáng trần cốt khai hóa dân trí:

  • Đức Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo ở Ấn Độ tương ứng thời vua Hiên Viên Huỳnh Đế bên Tàu.

  • Đức Thái Thượng Đạo Tổ mở Tiên giáo ở Trung Hoa.

  • Vua Phục Hy khởi đầu Nho giáo ở Trung Hoa.

  • Thánh Moise mở Do Thái giáo ở nước Do Thái.

- Thời kỳ thứ hai :

Nhị kỳ Phổ Độ : Thời kỳ nầy nhân loại tuy đã được khai hóa, nhưng vẫn sinh hoạt nội tư phương của mình, nhưng để sinh tồn và tiến hóa nhân loại phải đấu tranh, càng đấu tranh lại càng thù nghịch lẫn nhau, xa rời những lời giáo huấn của các Vị Giáo chủ, nên tôn giáo thất chơn truyền, đạo đức suy đồi. Vì thế nhân loại đã gây ra cảnh mạnh được yếu thua, khôn còn dại mất... Nên Thượng Đế cho các Vị Giáo chủ giáng trần để chấn hưng Tam giáo cứu độ chúng sanh lần thứ hai, lần nầy có:

  • Đức Phật Thích Ca giáng sinh ở Ấn Độ, chấn hưng Phật giáo thời Nhứt Kỳ Phổ Độ, thời kỳ này đã mở ra Thích giáo với một giáo lý rất phong phú, thiết thực để giải khổ nhân sinh.

  • Đức Thái Thượng Đạo Tổ giáng sinh ở Trung Hoa là Lão Tử, mở ra Lão giáo hay Đạo giáo để chấn hưng Tiên giáo.

  • Đức Khổng Tử giáng sinh ở Trung Hoa, mở ra Khổng giáo để chấn hưng Nho giáo.                                              

  • Đức Chúa Jesus Christ giáng sinh ở nước Do Thái, mở ra Thiên Chúa giáo để chấn hưng Thánh Giáo và Đức Mohammet giáng sinh ở Trung Đông mở ra Đạo Hồi Giáo.

- Thời kỳ thứ ba :

Tam Kỳ Phổ Độ: Thời kỳ này nhân loại đã đạt được sự văn minh tiến bộ về phương diện vật chất, nhưng về tinh thần đạo đức lại suy đồi, lại nữa loài người trên thế giới đã tiếp cận với nhau như trong một làng mạc nhỏ bé... Các nền tôn giáo cũng truyền bá đồng hành khắp mọi nơi, nhưng vì những khác biệt trong giáo lý, giáo luật và nghi lễ, mà nhân loại đã nghịch lẫn nhau, tạo ra những cuộc chiến tranh đẩm máu về tôn giáo. Nên thời kỳ này Đức Chí Tôn không giao chánh giáo cho tay phàm nữa, mà chính mình Thượng Đế giáng linh lập đạo, bằng huyền cơ diệu bút.

 

Theo lời giải thích của Đức Hộ Pháp thì ngày nay trong Tam kỳ Phổ độ Đức Chí Tôn còn chọn ba vị Phật, Thánh, Tiên cầm quyền Tam trấn thay mặt cho Tam Giáo giáng cơ lập đạo đó là:

  • Đức Quan Thế Âm Bồ Tát (thay mặt Thích giáo).

  • Đức Lý Thái Bạch (thay mặt Đạo giáo, đồng thời kiêm phẩm Giáo Tông vô hình).

  • Đức Quan Thánh Đế Quân (thay mặt Nho giáo).

 

Vì ba vị này lúc sinh tiền có đức hạnh vẹn toàn, đủ tư cách độ đời, đáng làm gương cho hậu thế. Ngày nay ba vị thọ mạng Chí Tôn chấp chưởng cơ quan mầu nhiệm, trấn nhậm Quyền hành, lập Luật pháp, Đạo Nghị định cho hiệp với Thiên thơ tiền định. Vì vậy nên bổn đạo phải để tâm thành kỉnh phụng thờ Tam Trấn Oai nghiêm.

Giáo lý Đạo Cao Đài là gì ?

Căn bản của giáo lý Cao Đài là thực hành điều thiện và đức hạnh. Làm thế nào biết được bằng cách khác trong một tôn giáo hỗn hợp ba hệ thống lớn của Đông phương : Khổng giáo, Phật giáo, Lão giáo, để chỉ giữ lại những giáo huấn cao siêu nhứt  và loại bỏ những giáo huấn lạc hậu xem như  là những yếu tố mê tín và dốt nát ?

  • Đức Phật từ bi giảng dạy lòng tín ngưỡng và từ thiện.

  • Giáo lý của Đức Lão Tử qui định sự tôn thờ chơn lý và khuôn khổ đức tánh.

  • Đức Thánh Khổng Tử vạch ra con đường Trung Dung.

 

Giáo lý của Đạo Cao Đài không chỉ nhằm mục đích hoà hợp các tín ngưỡng tôn giáo, mà còn thích nghi với tất cả mức độ tiến hóa của tâm linh.

1. Về phương diện đạo đức : Giáo lý Đạo Cao Đài nhắc nhở con người có bổn phận đối với chính mình, đối với gia đình, đối với xã hội, ấy là một gia đình mở rộng, kế đó đối với nhơn loại, gia đình thế giới;

 

2. Về phương diện Triết học : Giáo lý Đạo Cao Đài truyền dạy sự khinh thường danh vọng, sự giàu có, sự xa hoa, tắt một lời là sự giải thoát khỏi những nô lệ vật chất, để tìm tòi trong tâm linh sự yên tĩnh của tâm hồn;

 

3. Về phương diện văn hóa : Giáo lý Đạo Cao Đài khuyên nhủ sùng bái Thượng Đế, Đại Từ Phụ của tất cả chúng ta, tôn thờ các Đấng chơn linh thượng đẳng vốn tạo nên hệ thống trật tự oai nghiêm trong thế giới huyền bí. Chấp nhận sự thờ cúng tổ tiên theo truyền thống dân tộc, bài trừ việc cúng bằng các thứ thịt thú vật, cũng như tục đốt giấy giấy vàng mã;

 

4. Về phương diện tâm linh : Giáo lý Đạo Cao Đài xác nhận và đồng ý với các tôn giáo khác về các hệ thống triết học tâm linh và tâm lý, sự hiện hữu của linh hồn và sự tồn sinh của nó nơi thể xác. Sự tiến hóa của linh hồn bởi sự luân hồi chuyển kiếp liên tiếp, và các hành vi của con người lúc sanh tiền sẽ được định bởi luật Nhân quả sau khi chết;

 

5. Về phương diện truyền giáo : Đạo Cao Đài truyền đạo cho các tín đồ xứng đáng những giáo huấn mặc khải mà nó cho phép các tín đồ, bởi quá trình tiến hóa tâm linh, đạt đến sự hưởng thụ toàn phúc.

VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ ĐẠO CAO ĐÀI

 

Cách đây non một thế kỷ, vào khoảng những năm 1920 đến 1925, Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế đã hạ phàm dùng huyền diệu Tiên gia giáng cơ giáo đạo, quy tụ các lương sanh tiền bối lập thành Hội Thánh để độ dẫn quần sanh. Danh từ "Cao Đài" theo nghĩa đen chỉ "một nơi cao". Theo nghĩa bóng, được hiểu là nơi cao nhất (Đầu thượng viết Cao Đài) nơi đó Thượng Đế Chí Tôn ngự trị. Đấng có danh xưng đầy đủ là "Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát". Người đệ tử đầu tiên là Ngài Đốc Phủ Ngô Văn Chiêu, sinh ngày 28/2/1878 tại Chợ Lớn. Sau đó, có thêm những vị như quý Ngài Lê Văn Trung, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang.

 

Trong thời gian tiền khai gầy dựng nền móng gần 5 năm. Đến ngày 01 tháng 09 Bính dần (1926), 28 vị đại diện cho 247 tín đồ đầu tiên, đồng ký tên vào tờ Khai đạo do Ngài Lê văn Trung viết bằng Pháp ngữ, gởi lên Thống đốc Nam kỳ lúc đó là ông Le Fol. Đây không phải là một đơn xin phép, mà là một Bản Tuyên ngôn sáng lập một tôn giáo lấy tên là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Tờ Khai Đạo nầy đã được ông Le Fol vui vẻ tiếp nhận. Sau đó Hội Thánh cũng đã gởi tuyên cáo đến các vị Hoàng đế, Tổng thống, Nguyên thủ quốc gia, các Hiệp hội của các nước trên thế giới, cùng các cơ quan truyền thông báo chí thông báo sự khai sáng nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trên đất nước Việt Nam.

 

Để đặt cơ sở ban đầu cho nền Đạo, các vị tiền bối đã mượn chùa Từ Lâm tự tại Gò kén Tây Ninh, là một ngôi chùa Phật thuộc giáo phái Thiền tông, mới xây cất còn dở dang. Khi mượn chùa nầy, Hội Thánh Cao Đài phải kiến tạo thêm cho hoàn chỉnh. Nên vào ngày 15 tháng 10 nhằm ngày rằm Hạ nguơn năm Bính dần (18-11-1926), Lễ Khai đạo đã được tổ chức tại chùa Từ Lâm tự, tuy trước đó đã có 5 năm chuẩn bị, nhưng mãi đến năm Bính dần, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mới chính thức khai sáng tại nước Việt nam, và cũng chính thức ra mắt với nhân loại trên toàn thế giới.

 

Khi đặt cơ sở đầu tiên tại chùa Từ Lâm tự một thời gian ngắn, thì Ơn Trên đã giáng cơ chỉ dẫn Hội Thánh đến mua một khu rừng 96 mẫu của một Pháp kiều tại làng Long Thành, để làm cơ sở ban đầu cho nền Đạo, đến nay nơi nầy đã trở thành Thánh địa trung ương của Cao Đài Giáo.

 

TỔ CHỨC GIÁO HỘI CAO ĐÀI

 

Về tổ chức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có 3 đài: Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài.                          

- Bát Quái Đài :

Bát Quái Đài là nơi Đức Chí Tôn ngự trị chưởng quản càn khôn vũ trụ, Thiên triều của Ngài gồm có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật là các Đấng trọn lành phụ sự.

 

Bát Quái Đài là linh hồn của Đạo, mọi giáo pháp của Đại Đạo do nơi Bát Quái Đài xuất phát.  Vì Chí Tôn là Đấng tự hữu và hằng hữu đã tạo lập ra càn khôn vũ trụ và vạn hữu chúng sanh. Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật là những chúng sanh đã đắc Đạo, trở lại phụng sự Thượng Đế, giáo nghĩa nhơn loại xây dựng xã hội bác ái, công bằng.

- Hiệp Thiên Đài :

Hiệp Thiên Đài là Đài bán hữu hình, do Hộ Pháp chưởng quản. Hiệp Thiên Đài có 2 sở dụng: sở dụng Thiêng liêng nơi làm trung gian hội hiệp giữa con người (hữu hình) với Đức Chí Tôn hay Thần, Thánh, Tiên, Phật (vô hình) qua cơ bút, và sở dụng Phàm trần là giữ nhiệm vụ lập pháp và tư pháp trong tôn giáo.  

           

Về ý nghĩa Hiệp Thiên Đài, phần Pháp Chánh Truyền chú giải có ghi rõ:

  • Hiệp Thiên Đài là nơi Thầy ngự cầm quyền thiêng liêng mối Đạo. (Phẩm Giáo Tông của Cửu Trùng Đài muốn cầu Đức Chí Tôn hay các Đấng Thiêng Liêng phải đến Hiệp Thiên Đài).

  • Hiệp Thiên Đài là chơn thần của Đạo. (là trung gian của Bát Quái Đài và Cửu Trùng Đài).

  • Hiệp Thiên Đài là tay vén màn bí mật cho sự hữu hình và vô vi hiệp làm một..

  • Hiệp Thiên Đài là luật lệ. (đối với Cửu Trùng Đài là chánh trị). Hiệp Thiên Đài là cơ quan bảo thủ luật pháp chơn truyền của Đạo.

Tổ chức nhân sự của Hiệp Thiên Đài :    

Chư Chức sắc Đại Thiên phong Hiệp Thiên Đài đều do Đức Chí Tôn tấn phong qua cơ bút. Chia làm ba chi: Chi Pháp, Chi Đạo và Chi Thế. Nhân sự của Hiệp Thiên Đài tùy nhu cầu và sở năng mà phân bổ vào ba chi như sau:

  • Chi Pháp : Hộ Pháp chưởng quản tồn Đài kiêm Chi Pháp. Chi Pháp có 4 vị Thời quân: Tiếp Pháp, Khai Pháp, Hiến Pháp, Bảo Pháp.                                                             

  • Chi Đạo : Thượng Phẩm coi Chi Đạo. Chi Đạo có 4 vị thời quân: Tiếp Đạo, Khai Đạo, Hiến Đạo, Bảo Đạo. 

  • Chi Thế : Thượng Sanh coi chi Thế. Chi Thế có 04 vị thời quân: Tiếp Thế, Khai Thế, Hiến Thế, Bảo Thế. 

 

Về sau Hiệp Thiên Đài có thêm Thập Nhị Bảo Quân là Chức sắc Hàn lâm viện do Đức Chí Tôn tấn phong qua cơ bút, và Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn lập thêm các chức sắc cấp dưới từ Tiếp dẫn Đạo nhơn xuống đến Sĩ Tải. Đức Hộ Pháp lập thêm phẩm Luật Sự, do khoa mục tuyển chọn. Sự cầu phong cầu thăng của những chức sắc nầy căn cứ trên công nghiệp và thâm niên công vụ, hoặc do cơ  bút định vị. Sự điều hành Hội Thánh Hiệp thiên Đài, do hiến pháp Hiệp Thiên Đài quy định.                                                     

Cửu Trùng Đài

Cửu Trùng Đài là phần hữu hình tức là phần xác của Đạo, nhân sự do tín đồ công cử hoặc Đức Chí Tôn ban thưởng. Về phần hữu hình, Cửu Trùng Đài có 2 nhiệm vụ là hành pháp, và lo về hành chánh quản trị của Đạo.

           

Nhân sự Cửu Trùng Đài phân theo Nam và Nữ (theo giới tính).

Cửu Trùng Đài nam phái :

Nam Phái chia làm 3 phái: Phái Thái (sắc phục màu vàng), Phái Thượng (sắc phục màu xanh da trời), Phái Ngọc (sắc phục màu đỏ).

           

Các bậc phẩm bao gồm: Lễ Sanh, Giáo Hữu, Giáo Sư, Phối Sư, Đầu Sư, Chưởng Pháp, Giáo Tông với số lượng như sau:

           

            - Lễ Sanh: Không định số.

            - Giáo Hữu: 3.000 vị. (Mỗi phái một ngàn).

            - Giáo Sư: 72 vị (Mỗi phái 24 vị).

            - Phối Sư: 36 vị (Mỗi phái 12 vị, trong đó có 3 vị Chánh Phối Sư).

            - Đầu Sư: 3 vị (Mỗi phái một vị).

            - Chưởng Pháp: 3 vị (Mỗi phái một vị).

            - Giáo Tông: 1 vị (là anh cả của toàn thể tín đồ).

Cửu Trùng Đài nữ phái :

Nữ phái không chia phái và mang Đạo phục toàn màu trắng. Quyền hành chức sắc Cửu Trùng Đài Nữ Phái y như Nam Phái, song chỉ trông coi phái Nữ mà thôi. Các bậc phẩm của Nữ phái cũng bao gồm: Lễ Sanh, Giáo Hữu, Giáo Sư, Phối Sư, Đầu Sư (không có phẩm Chưởng Pháp và Giáo Tông), số lượng như sau:

           

            - Đầu Sư phái Nữ: 1 vị.

            - Chánh Phối Sư phái Nữ: 1 vị.          

            - Các bậc phẩm từ Phối Sư xuống đến Lễ Sanh: Không giới hạn.

            - Đầu Sư nữ phái phải tùng quyền Chưởng Pháp cùng Giáo Tông.

Cửu Viện :

Cửu Trùng Đài có 9 viện phụ trách điều hành trong lãnh vực hành chánh đạo, cũng như lo vấn đề dân sanh, dân trí, dân đức trong đời sống của tín đồ, đó là: Học Viện, Y Viện, Nông Viện, Hộ Viện, Lương Viện, Công Viện, Hòa Viện, Lại Viện, Lễ Viện.

 

            - Phái Thái chịu trách nhiệm Hộ Viện, Lương Viện, Công Viện.

            - Phái Thượng chịu trách nhiệm Học Viện, Y Viện, Nông Viện.

            - Phái Ngọc chịu trách nhiệm Hòa Viện, Lại Viện, Lễ Viện.

           

Công cử nhân sự Cửu Trùng Đài: Chức Sắc Cửu Trùng Đài bắt đầu từ phẩm Lễ Sanh (lựa chọn trong hàng tín đồ và chức việc, là những người có Đạo Hạnh tốt). Chức Sắc Cửu Trùng Đài mỗi khi cầu phong hay cầu thăng đều phải qua 3 giai đoạn sau đây :

 

            - Quyền Vạn Linh là Hội Nhơn Sanh, Hội Thánh và Thượng hội chấp nhận.

            - Quyền Chí Tôn tại thế (Giáo Tông và Hộ Pháp) chấp nhận.

            - Cơ bút chấm Phái và nhìn nhận tại Cung Đạo.

 

Về sau Hội Thánh có mở thêm một số phẩm trật cho những người phục vụ theo ngành như Bộ phận Kiến trúc (công thợ), Ban Nhạc, Ban Thế đạo... các phẩm vị nầy cũng tương ứng với phẩm trật bên Cửu Trùng Đài. Còn Đầu Phòng Văn, Lễ Sĩ, Giáo Nhi…nếu đủ công nghiệp thì được cầu phong phẩm Lễ Sanh. Đặc biệt là phẩm Hiền Tài (thuộc Ban Thế Đạo) nếu có công nghiệp hành Đạo được cầu thăng sang phẩm Giáo Hữu.

 

NGŨ GIỚI CẤM ĐỐI VỚI NGƯỜI TÍN ĐỒ CAO ĐÀI :

  1. Không giết hại các sinh vật  (vì chúng đều có Sanh hồn do Thượng Đế ban cho);

  2. Không gian tham  (để tránh khỏi sa đọa vào vật chất vì nhu cầu sở hữu và thống trị). Chính sự  tiến bộ của xã hội hiện nay mà tất cả dường như khêu gợi lòng kiêu ngạo và thèm khát giàu có;

  3. Không dùng cao lương mỹ vị :

    • Không ăn thịt thú vật (phải ăn chay).

    • Không uống rượu (vì nó làm hại thể xác và chơn thần).

  4. Không tà dâm (việc nầy đưa chúng ta vào nghiệp ác).

  5. Không phạm tội bằng lời nói   

 

KẾT LUẬN

 

Để kết luận, xin trích dẫn sau đây lời thuyết đạo của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc :

 

“ Các tôn giáo  giống như các Phân khoa đại học : một cách không sâu sắc, những giáo điều, những tín ngưỡng..., dường như không hòa hợp nhau, thường chống đối nhau. Phải như thế, bởi vì mỗi người có một thị hiếu, một khuynh hướng, một sở thích, một học thức, một giáo dục, lắm khi hoàn toàn khác nhau của những người ở gần nhau.

 

“ Tôn giáo được tạo ra khác nhau do trình độ văn minh của các dân tộc, do mức độ tiến hóa, do hoàn cảnh, do môi trường sống, do phong tục và tạp quán...

 

“ Nhưng đứng trên tất cả những điều khác biệt đó, là Đấng Tạo Hóa, Đấng Thượng Đế, nghĩa là Lương tâm vũ trụ, hòa hợp tất cả mọi người, mặc dầu có những dị biệt về màu da, trình độ văn minh... Đó là những tín đồ Cao Đài tự đặt việc phụng sự đức tin lớn nơi Thượng Đế cho sự hợp nhứt nầy, để chấm dứt cơn ác mộng khủng khiếp là cuộc chiến tranh thế giới, cốt nhục tương tàn, ám ảnh con người và đang chuẩn bị tích cực vào lúc nầy ở Âu châu.

 

“ Những giáo điều, óc đảng phái vây bọc con người trong một vòng tròn rất nhỏ hẹp, nơi đó, con người chỉ thấy một phần rất nhỏ của thế giới mà mặt trời soi sáng. Con người phải tiến hóa, cũng thế, phải tìm tòi hiểu biết để tiến bộ, để rồi không dậm chân tại chỗ. Các tôn giáo đối với họ phải giống như một sợi dây ràng buộc một đứa trẻ đã biết đi, nhưng một chị vú em có đầu óc đần độn hay có sự lo sợ vô lý về trách nhiệm của mình, luôn luôn giữ chặt đứa bé một cách mạnh mẽ giữa hai tay, lấy cớ rằng đứa bé sẽ mất thăng bằng và té xuống.

 

“ Nhơn loại hiện tại đã khá trưởng thành, không nên ràng buộc để dẫn dắt nó và ngăn trở nó đi đến đường Đạo. Phải cho nó đại khí của Vô cực, để thích hợp với trạng thái của tâm hồn và sự sùng đạo của nó. Phải cho nó hoạt động và sống trong chơn lý, nhưng không phải trong chỗ tối tăm, cũng không phải trong sự nghi ngờ ám ảnh và vật ám ảnh.”

 

 

(Bài viết này phỏng theo các tài liệu Đạo của các tác giả : Gabriel Gobron, Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng và Dã Trung Tử)

 Mọi thắc mắc về Đạo Cao Đài, xin vui lòng liên lạc qua : caodai@yahoo.com

Đọc tiếp về
tổ chức Giáo hội

đọc tiếp